Ý nghĩa và sự ra đời của thiền định trong Phật giáo

2 years ago Nga Truong 0

“Hãy bình tâm” là một lời khuyên thường gặp hàng ngày đối với ai vướng vào trạng thái căng thẳng, nan giải. Bình tâm cũng là cái đích cần đặt cho những ai hành thiền.

Theo các hành giả hành thiền, khi đạt tới trạng thái bình thường tâm, đã là biến tâm động thành tâm bất động, điều mà Phật giáo gọi là tâm Không (Sũnyatà), nơi mình trong khoảnh khắc, cá nhân có những khả năng đặc biệt mà lúc thường không có. Những khoảnh khắc đặc biệt này Phật giáo gọi là “cảnh giới tự chứng”, nếu khoảnh khắc đặc biệt đó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần qua hành thiền, cá nhân sẽ có những khả năng siêu thực. Như vậy, nói đến thiền là nói đến hành luyện Tâm, thế thì ý nghĩa và sự ra đời của thiền định trong Phật giáo là do đâu?

Ở thiền không có tư duy trừu tượng

Sống trong thời đại tri thức của thế kỷ 21, nhân loại đã ít nhiều thấm nhuần những tư tưởng của khoa học hiện đại, của các trường phái triết học. Khi nhận thức dựa vào một triết thuyết nào đó, mỗi người không thể không qua khuôn thức mà các nhà triết học hướng rằng: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Nhưng trong không gian thực nơi chúng ta đang tồn tại có những tồn tại mà mọi giác quan của con người không thể cảm  thụ được thì sao có thể trực quan để tìm quy luật cái tồn tại đó? Có những trường hợp khám phá bí mật của tự nhiên, người ta nhận thức khác hẳn với mọi trường phái duy vật, như nhà vật lý thiên tài A. Einstein từng nói: “Tưởng tượng cao hơn tri thức”. Chính cách nhận thức như vậy đã giúp A. Einstein và các nhà khoa học giải Nobel ở thế kỷ 20 và 21 tìm ra bí mật của tự nhiên, điều mà nếu còn tư duy khoa học theo cách duy lý thì không bao giờ đạt được. Trong đạo Phật, để thoát ly sinh tử qua đột phá vào hàng rào không thời gian của không gian 4 chiều để đồng nhất thể với mọi dạng thức không gian trong vũ trụ, nếu dựa vào “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” để hình thành nên một lâu đài tư tương là điều không bao giờ được chấp nhận và coi đó là một sự huyền hoặc.

Ý nghĩa và sự ra đời của thiền định trong phật giáo - Ảnh 1

Khi tiếp cận những hiện tượng của Tâm (citta) trong con người và những hiện tượng tinh thần khác bằng suy luận, cho dù hình thành nên một học thuyết nào đó có lập luận theo logic chặt chẽ đến đâu, nếu “tác giả” chưa tưng “đến” và “qua” thì Phật giáo luôn coi là sự hoang đường không dẫn ai đến đích. Chính vì vậy, trong các kinh điển và các nhà tu hành đích thực trong lịch sử Phật giáo luôn nhấn mạnh ngôn thức “cảnh giới tự chứng” (Pratyat mavedyagatigocara). Đó là cái mà các hành giả phải đến tận nơi, đã thấy, đã qua, đã biết. Về điều nàyy, trong kinh sách của Phật giáo có nhắc đến một câu chuyện như sau: Lúc Đức Phật còn tại thế, có lần một đệ tử sau một thời gian dài theo ngài, tự thấy không tiến bộ gì trong tu chứng, bèn xin phép đến học một đạo sư mà anh ta đã tìm hiểu khá kỹ. Đức Phật bèn hỏi đệ tử kia đến đó học gì? Anh ta trả lời: “Học để lên cõi trời". Đức Phật lại hỏi tiếp: ‘Thế ông thầy kia từ trên trời trở về à?”. Đệ tử kia trả lời, vị thầy đó chưa từng lên trời, nhưng có lý luận cao siêu, hợp lý về con đường lên trời. Đức Phật tỏ vẻ thất vọng và nói với đệ tử đó: “Vậy hóa ra một người mù dẫn dắt người sáng mắt. Thì ra ông ta chỉ dạy ngươi về ngôn từ đường lên trời! Còn như ta, ví như đã đến một nơi có nước trong sa mạc, ta đã uống, đã lặn ngụp, tắm trong đổ, sau đó trở về dẫn dắt các ngươi tới đó.  Vấn đề còn lại các ngươi phải tự đi đến đó, không ai mang mình đi mà phải tự chính mìnhl". Như vậy, cảnh giới tự chứng, nếu ai đó đã đạt được thì không thể san sẻ cho người khác cùng thấy cùng biết được.

Do vậy, chúng ta không bao giờ bắt gặp cách diễn giảng theo lối triết thuyết trong toàn bộ giáo lý của đạo Phật, muốn đạt được phải hành luyện tâm, như qua hành thiền. Nhân đây cũng nói thêm rằng, giáo lý của đạo Phật bao gồm các kinh điển của Đại thừa, Tiểu thừa (gồm Kinh, Luật, Luận) có khối lượng đồ sộ vượt xa tất cả các khối lượng tài liệu đã viết, đã in ra của các hệ tư tưởng hiện có của nhân loại. Nhưng đó không phải là yếu tố cơ bản toàn kết nên đạo Phật! Như vậy, đạo Phật chỉ ra rằng, phải hướng tới ánh sáng chứng nghiệm bản thân của mỗi người thay vì tri thức. Nơi đó là miền khắc chế giữa các mặt đối lập giữa có và không (xin đừng hiểu không ở đây là không có gì), thuộc tính của bản thân mỗi người phải được khơi dậy bằng một năng khiếu khác mà họ thường miên trường quên lãng. Cái năng khiếu này chính là sức mạnh siêu tưởng của tâm khi nó ở trạng thái như như bất động. Vậy “cái năng khiếu khác” kia đối lập với trí thức tiềm ẩn trong mỗi con người là thế nào? Và ai đã khơi dậy được cái diệu dụng của năng khiếu ấy? Hàng ngàn năm qua tại khu vực châu Á đã có bao lớp người đời buông bỏ thế tục để hướng tới sự khai phá cái “năng khiếu khác” nói trên. Họ là những nhà tu hành Phật giáo đích thực theo các trường phái Tiểu thừa, Đại thừa, Mật tông (Esteris Buddism), Tịnh độ, Thiền tông… Song trên Trái đất, ngươi đầu tiên khởi xướng trào lưu này mới có một người duy nhất, đó là Tất Đạt Đa, tộc Thích Ca ở Ấn Độ cổ xưa, sinh năm 468 trước Công nguyên (TCN) và tịch diệt vào năm 368 TCN.

Một thành công hy hữu siêu tuyệt qua thiền

Sự xuất hiện nhân vật lịch sử vĩ đại Thích tôn Tất Đạt Đa cách nay gần 2.500 năm chính là khởi sinh một tôn giáo lớn trong tiến trình lịch sử của nhân loại. Đó là Phật giáo. Phật giáo không chỉ là tôn giáo mà là một học phái, đó là Phật học với một hệ thống kinh sách, luân điển (Kinh, Luật, Luận; Kinh điển Tiếu thừa, Đại thừa) đồ sộ, có nội dung cao siêu với một hệ thống khái niệm phản ánh vũ trụ, không gian, nhân sinh và con đường xuất thế gian (tự chuyển không gian) để thoát ly sinh tử. Song cũng cần khẳng định lại một lần trong nhiều lần là: đạo Phật không phải toàn kết bởi các kinh sách, luận điểm mà đó là sự thực hành nội luyện của mỗi cá nhân trong việc khai phá nội tại nơi mình để đạt tới cảnh giới tự chúng (Pratyatmavedyagatigocara) để đồng nhất thể với mọi dạng thúc không gian, để thoát ly sinh tử. Để thấu hiểu điều này, chúng ta không thể không chú tâm đến sự xuất hiện Thích tôn Tất Đạt Đa cách nay gần 2.500 năm. Thực ra, việc làm của đức Thích tôn lúc sinh thời là khảo sát không gian nơi loài người sinh ra và tồn tại, ngài ý thức được rằng nơi đây con người mãi mãi nằm trong vòng luân hồi sinh diệt. Ngài đã có ý chí mãnh liệt hướng tới một vấn đề mà nhân loại chưa từng ai nghĩ tới, đó là tìm đến con đường thoát ly sinh diệt (sinh tử).

 Để làm điều này, ngay từ lúc đầu, ngài chối bỏ mọi cách tu khổ hạnh để “lên cõi trời”. Tuy vậy, sau đó ngài vẫn chưa tìm ra con đường đồng nhất thể với mọi dạng thức không gian – chuyển không gian thoát ly sinh tử, nên đã mất 6 năm sai lầm tu khổ hạnh bằng tọa thiền bên sông Nairanjana (thiền ở đây là thiền của các giáo phái đã có trước khi Thích Ca sinh ra, như của phái Yoga, của Kỳ Na Giáo (đạo Xích)… Những lối hành thiền này, Phật giáo gọi là ngoại đạo thiền). Sau đó ngài ngộ ra sự sai lầm và quyết chối bỏ cách hành luyện này, coi là không chính đạo. Bằng trực giác siêu việt, sau khi quan sát nguyên lý sinh diệt của vạn vật, con người, trên lập trường tự chuyển không gian, với tinh thần dũng mãnh, ngài ngồi thiền nhập định suốt 49 ngày đêm dưới góc cây to mà tư duy, biến tàm (citta) động thành tâm bất động nơị mình, sang đến ngày thứ 49, ngài đã thấu được mọi pháp, nay sinh trí tuệ (huệ), đạt được cái đạo lý vô ngã (không tôi), đã đồng nhất thể với mọi dạng thức không gian, với vũ trụ và tự chuyển không gian được.

Ý nghĩa và sự ra đời của thiền định trong phật giáo - Ảnh 2

 Như vậy, ngài đã thoát ly sinh tử từ nơi mình. Khi đạt được điều nói trên, ngài đã thoát ly sinh tử, ngài tự xưng mình là Vô thượng Phật đà (Buddha), điều mà nhân gian sau này gọi là Phật. Sự thành đạt siêu việt của ngài qua 49 ngày ngồi thiền nhập định (Dhyana) chỉ là khoảnh khắc đột biến trong cả vòng đời quá khứ, hiện tại mà ngài đã hành luyện xóa nghiệp (nghiệp – karma: tài sản do hành vi tạo tác của mọi người dưới sự chỉ đạo của ý niệm trong các đời quá khứ, hiện tại và tương lai, đạo Phật là đạo bạt nghiệp đến xóa hết nghiệp – khi hết nghiệp là tâm thành tâm không, lúc này cá nhân thành không tôi, là đồng nhất thể với mọi không gian với mọi chiêu khác nhau, nghĩa là đã tự chuyển không gian thoát ly sinh tử), diệt tham sân si, phá bỏ vô minh (vô minh: nguồn mê hoặc do tham sân si gây ra, làm cho không có trí tuệ hay huệ, khi vô minh = 0 là tâm thành tâm không). 49 ngày này là minh chứng đức Thích Ca đã chọn đúng “công đoạn’’cuối cùng đến tự chuyển không gian thoát ly sinh tử, đã đoạn tuyệt vòng đời luân hồi sinh tử triền miên bao kiếp trước đó.

Như vậy, sự đạt đạo thoát Ịy sinh tử của Thích Ca Tất Đạt Đa là bằng TÂM CHỨNG (citta), đây là điều mà ngài nhắc lại nhiều lầ̀n cho các đệ tử của ngài khi còn tại thế. Tâm ở đâỵ không theo nghĩa của Nho giáo ở chỗ chỉ nhân cách đạo đức của cá nhân, chỉ quy tắc ứng xử hợp lẽ trong cuộc sống, mà đó là bạn thể của vũ trụ, của không gian các chiều chứa trong thân xác mỗi người (bản ngã). Tâm của cá nhân và không gian các chiều, trong đó có không gian 4 chiều, không có sự sinh và sự diệt, là đồng nhất thể, song vẫn có dị biệt do con người có tham, sân (nóng giận), si (không trí tuệ, vô minh). Chính sự dị biệt này mà tâm năng biến (tâm động) tìm “vật mang” qua xác thân tạo thành bản ngã (atman – cá nhân, cái tôi) với nhũng số phận và cuộc đời khác nhau, cái xác thân sinh học mãi mãi luân hồi sinh tử. Sự năng biến tìm vật mang do nghiệp (karma) chi phối. Nếu xóa hết nghiệp là vô ngã (không còn nương vào vật mang nào nữa – là không tôi – tự do tự tại) là đi đến vô niệm (không khởi lên một điều gì), làm cho tâm của ca nhân đồng nhất thể với tâm của mọi không giạn các chiều, của vũ trụ – lúc đó TÂM VÔ TÂM (tâm không) là đạt đạo hay đã tự chuyển không gian đến bất kỳ không gian nào trong vũ trụ và không còn sinh diệt.

Cái “Trí tuệ”của đức Thế tôn có được sau khi đạt đạo nói trên như ngài nói đó là siêu trí thế gian (Lokottarataman) hay còn gọi là thánh trí(Aryanãna) giúp hành giả nhập vào (chuyển sang) bản chất nội tại (Svapratyatma) của tất cả không gian các chiều, điều mà đạo Phật gọi là TỰ CHỨNG. Khi hành giả đạt tới cảnh giới tự chứng với siêu trí thế gian thì cuộc đời sinh tử- tử sinh bất tận cũng chấm dứt. Từ đây hành giả không còn thụ động chấp nhận vật mang, chẳng hạn như xác thân dạng người, có thể tới mọi địa điểm trong đại vũ trụ mênh mông. Như vậy, ngài Thích Ca Phật đã hướng đến mục đích tối thượng của nhân sinh mà họ đã ước mơ qua bao thời đại không phải qua một học thuyết mà bằng thực hành khai phá khả năng siêu tận có ngay chính nơi mình. Như vậy, Phật giáo được toàn kết không phải là triết thuyết. Con người là con người của xã hội, song mặt khác là con người tối thượng có được do chính cá nhân nội luyện để đột phá vào hàng rào không – thời gian của không gian 4 chiều để tự chuyển không gian mà thoát ly sinh tử. Chính mặt thứ hai này của con người là đích tối thượng mà Phật giáo kêu gọi tới bằng con đường bạt nghiệp, biến tâm động trong mỗi người thành tâm không như như bất động. Tất cả các luận điểm trong kinh sách của Phật giáo từ xa xưa còn lưu truyền cho đến nay đều minh chứng và làm rõ hơn con đường tâm không mà Thích Ca đã đạt được sau 49 ngày ngồi thiền nhập định dưới gốc cây bồ đề tại Ấn Độ cổ xưa cách nay gần 2.500 năm.

Như vậy, Phật giáo ra đời bởi một người bình thường đã khai phá được khả năng siêu tận tiềm ẩn trong mỗi người để xụất thế hay tự chuyển không gian mà vĩnh viễn thoát ly sinh tử… Cái khoảnh khắc để tự chuyển không gian mà đức Thích Ca đạt được là qua thiền định liên tục trong 49 ngày đêm.

Nguồn tổng hợp