Tuỳ bút của Huỳnh Ngọc Chiến: Với ngàn thông Đà Lạt

1 year ago Nga Truong 0

Đà Lạt! Từ nhỏ, hai chữ đỏ đối với tôi như ngân lên từ một cõi nào xa lạ. Đà Lạt của nhũng đồi thông. Đà Lạt của muôn ngàn cỏ hoa. Đó là thành phố của sương mù, không phải sương mù của trời đất, mà là sương mù của huyền thoại.

Ngày xưa, khi còn đi học, những cô bạn sinh viên dân gốc Đà Lạt học cùng lớp, với đôi má hồng hồng, đôi mắt long lanh, dưới mắt tôi, trông giống như những cô gái vừa bước ra từ một cõi thơ mộng hoang đường! Và tôi tìm đến thành phố này đôi lần, như một khách nhàn du, để thưởng thức những rừng thông qua lớp sương mù cổ tích ở Đà Lạt.

Nói đến Đà Lạt có lẽ là nói đến những đồi thông. Cỏ hoa Đà Lạt vô cùng xinh đẹp, song không hiểu sao, chúng lại chẳng hề gây được một ấn tượng nào sâu đậm trong tôi. Có lẽ những loài hoa đó, dẫu là những “kỳ hoa dị tho”trong những lễ hội lộng lẫy, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy ở đâu đó. Còn những đồi thông, ta chỉ nhìn thấy ở Đà Lạt. Nó khác hẳn những đồi thông trên đường lên Tây Nguyên, hoặc nhũng đồi thông trên đèo Hải Vân lộng gió. Có lẽ nhờ những lóp sương mù quanh năm lãng đãng. Những lớp sương mù đó đã tạo nên vẻ cổ tích và huyền thoại cho thành phố cao nguyên. Những người thiết kế sân bay Liên Khương cách xa Đà Lạt quả đáng để du khách tri ân. Nếu bạn đến Tây Nguyên bằng máy bay, thì bạn sẽ mất cơ hội ngắm những đồi thông ven quôc lộ của tỉnh ĐăkNông cho đến cầu 14. Nhưng với Đà Lạt thì lại khác, dù đến Đà Lạt bằng máy bay, bạn vẫn có cơ hội ngắm nhìn những đồi thông nhấp nhô hai bên đường, từ bên này đèo Prenn đèn trung tâm thành phố.

Nếu thiên nhiên của Tây Nguyên hùng tráng như một bài sử thi với rừng núi nhấp nhô, với dòng sông Sêrêpôk cuồn cuộn chảy, thì thiên nhiên ở Đà Lạt lại êm đềm và mênh mông như một bài trường thiên lục bát, với những đồi thông thơ mộng. Buổi tối, theo lời giới thiệu của một nhà thư pháp, tôi đến uống tại một quán cà phê, nơi anh có tặng cho bà chủ quán một bức thư pháp trên giấy dó. Quán không nổi tiếng lắm, hỏi không một ai biết.Tôi phải nhờ một anh xe ôm thuộc loại “thổ địa” đưa đến. Quán không có gì đặc biệt, nằm trên một đồi thông vắng vẻ, trên đường ra vùng ngoại ô thành phố. Trong bóng tối lờ mờ của những ngọn nến, bà chủ quán đứng tuổi tự chơi đàn guitar và hát tặng khách những bài ca lãng mạn một thời vang bóng của Lê Uyên Phương, Phạm Duy, Cung Tiến… Khách cũng có người hát giao lưu lại vài bài. Khách đến không được nói chuyện ồn, nếu không sẽ bị “mời” ra ngoài. Tôi sực nhớ lại chuyện đã từng bị từ chối ly rượu rhum thứ tư tại quán Uyên Phương trên Tây Nguyên, trong một đêm giá lạnh. Một quán không cho khách nói chuyện nhiều, với cái thông báo dán ngoài cửạ (!), một quán không cho khách uống đến ly rượu thứ tư! Đó cũng là những cái “chnh tnh l đáng yêu của những quán cà phê, con người ở vùng cao nguyên.

Tuỳ bút của Huỳnh Ngọc Chiến: Với ngàn thông Đà Lạt - Ảnh 1

Đến khoảng 9 giờ tối, quán cà phê đã không còn chỗ ngồi. Dường như khách đến vì tò mò nhiều hơn là nghe nhạc, vì có rất nhiêu chú nhóc khoảng 9-10 tuổi! Song quả là thú vị khi ngồi nhâm nhi ly vang Đà Lạt để nghe nhạc, trong khi bên ngoài, sương đêm đang lặng lẽ rơi trên những hàng thông. Tôi vẫn thích nghe tiếng hát trực tiếp với cây guitar thùng, trong bầu không khí ấm cúng như thế này. Rất tiếc sự tĩnh lặng trong quán không phải là sự tĩnh lặng để thưởng thức âm nhạc, mà là sự tĩnh lặng gượng ép mang quá nhiều màu sắc phô trương nên những giai điệu tự nó cũng trở nên lạc lõng và mất đi ít nhiều vẻ quyến rũ vốn có từ những ca khúc tuyệt vời. Dường như tôi có cái duyên uống rượu và nghe nhạc ở vùng cao nguyên. Lên Tây Nguyên, có dịp uống rượu gạo và nghe những giai điệu rực lửa tại nhà ca sĩ nổi tiêng Y Moan – đứa con ca rng – tại căn nhà anh trong buôn Đhăprông, giữa buổi trưa hực nắng. Đến Đà Lạt lại được uống rượu và nghe một giọng hát dù hơi phô trương, nhưng vẫn còn khá ngọt ngào, từ người chủ quán vô danh trong một quán cà phê nhỏ trên đồi thông, giữa một đêm hè Đà Lạt.

Đến Tây Nguyên mà nghe những giai điệu êm đềm hoặc đến Đà Lạt để nghe những bài ca hùng tráng thì có lẽ cũng đều lạc điệu như nhau. Giống như bắt Từ Hải mặc áo lụa ngồi vẽ tranh và bắt Kim Trọng mặc áo giáp đúng múa kiêm!Rời quán khi trời đã về khuya, tôi chạy xe quạnh hồ Xuân Hương để tận hưởng cái lạnh về đêm và nhìn những hàng thông lặng lẽ thấp thoáng trong bóng tôi, dưới bụi mưa giăng giăng bàng bạc. Tự dưng tôi bông nghiệm ra cái ý vị tuyệt diệu trong hai chữ “thu ý của người xưa. Nhiêu cuôn tự điển thường định nghĩa chung chung “thuýlà ý vị mùa thu”. Song thử hỏi “ý vị mùa thu” c thể là cái gì thì khó mà nói rõ được. Cuốn tự điển Hoa-Anh Wenlin đã có một định nghĩa cực kỳ lý thú: “slight chill hinting of autumn”. Đó chính là cái se lạnh gợi nhớ đến mùa thu.

Tôi cho rằng không thể có một định nghĩa nào thơ mộng hơn được nữa. Cảm nhận được “ý vị mùa thu” trong cái se lạnh giữa một đêm hè Đà Lạt quả là điều cực kỳ hứng thú đối với những ai đã từng cảm nhận được mùa thu trong phong vị Đường thi. Song chính trong cái nắng đào buổi sớm, chạy xe quanh bờ hồ Xuân Hương để nghe cái se lạnh ngấm vào người mới là một cái thú tuyệt trần, nhất là đối với du khách lên từ những thành phố nóng bức và bụi bặm ở miền xuôi. Ngồi uống cà phê trên một quán dốc ven hồ, nhìn ra những đồi thông ở xa xa, tôi chợt có một cảm giác bâng khuâng man mác về sự tĩnh lặng bình dị, mà ngay cả những quán cà phê ven bờ hồ Hoàn Kiếm vào buổi sơ thu cũng không làm sao đem lại được.

Những chiếc xe ngựa chạy lóc cóc, nghe chậm chạp và đều đều như tiếng gõ nhịp của thời gian. Cả một thời xa xưa như còn thấp thoang đâu đây, qua nhưng hình ảnh phảng phất mơ hồ. Khắp nơi đều là thông. Và những đồi thông đã tạo nên nét ảo huyên cho thành phố Đà Lạt, ngay giữa mùa hè. Thậm chí cả nơi gọi là Trúc Lâm thin vin cũng chỉ thấy một vài khóm trúc lạc lõng. Toàn là thống. Lẽ ra nên gọi là Tùng Lâm thin vin! Tôi cố gắng một cách vô vọng để tìm ra, ở nơi đây, cái không khí “Thin”, mà tôi cảm nhận từ các trang cổ lục Thiên tông, nhưng không sao tìm được. Ngọn Thiền phong chót vót vào đời Đường ở Trung Quốc, cùng tiêng hét khai ngộ vang rền từ thời tổ sư Lam Tế, truyền đến giai đoạn Trúc Lâm Yên Tử đời Trần ở Việt Nam, giờ đây như đã bị chìm mất vĩnh viễn trong sự mô phỏng tâm thường đầy dung tục. Thêm vào đó, sự ồn ào của đám tạp khách nhàn du đã vô tình phá hỏng thêm cảnh vật của một vùng sơn thuỷ vô cùng thơ mộng. Cũng may là những đồi thông chung quanh còn giúp tôi cảm nhận được phầ̀n nào cái phong vị thoát tục bàng bạc trong các tòa cổ sát thời xưa.

Lướt ghe trên mặt hồ Tuyền Lâm, nhìn những đồi thông hai bên bờ sông; tuy không nghe tiêng nước róc rách, không nghe tiếng thông reo trong gió, chỉ có gió lông lộng trên mặt hồ, cũng đủ làm hồn khách thêm phơi phới. Giá như đi trên mặt hồ bằng một chiếc đò, vào lúc chiều hôm, có thêm tiếng chuông chùa ngân vang trong những đồi thông, tôi đã hình dung đó là không khí của Đường thi. Chỉ tiếc là khu dã ngoại giữa lòng hồ quá nhếch nhác, cùng với giá cả của các quán ăn dã ngoại sắc ngọt như lưỡi kiếm Ỷ Thiên đã khiến khách cụt cả hứng! Thông ám ảnh tôi đến mức nhìn những hàng cây mimosa từ trên cáp treo, tôi lại tưởng tượng ra đó là những cây bách đầu tùng, loại tùng kiểng vẫn thường trắng xóa đọt vào những ngày đông lạnh giá ở miền Trung.

Tuỳ bút của Huỳnh Ngọc Chiến: Với ngàn thông Đà Lạt - Ảnh 2

Tiếng thông reo là một trong những tặng vật tuyệt diệu mà Hoá công đã tặng cho con người. Nguyễn Du đã từng mong ước: “Hà năng lc phát quy lâm kh, Ngo thính tùng phong hưởng bán vân”(Làm sao xuống tóc vào rừng, Nghe thông reo gió vang lừng tầng mây). Tôi hình dung nếu Nguyễn Du được sống giữa những đồi thông Đà Lạt, thì tiếng thông reo và hình ảnh sương giăng trên những đồi thông nơi thành phố cao nguyên này sẽ trở nên bất tử với thơ ca.  Trong “U Mộng Ảnh”, Trương Trào đã viết về thông và tiếng thông reo bằng những lời vô cùng thơ mộng. Tôi xin trích ra đây để bạn đọc thưởng ngoạn:

  • Mùa xuân nghe tiếng chim hót, mùa hè nghe tiếng ve ngâm, mùa thu nghe tiếng côn trùng r rích, mùa đông nghe tiếng tuyết rơi, ban ngày nghe tiếng đánh c, dưới trăng nghe tiếng tiêu réo rắt, trong núi nghe tiếng gió thi ngàn thông, bên nước nghe tiếng sóng vỗ, mới không sng ung phí mt đời. (Xuân thính điểu thanh; hạ thính thiền thanh; thu thính trùng thanh; đông thính tuyết thanh; bạch trú thính kỳ thanh; nguyệt hạ thính tiêu thanh; sơn trung thính tùng phong thanh; thuỷ tế thính nội nãi thanh; phương bất khứ sinh thử nhĩ).
  • Gy hoa để gi bướm, cht đá để mi mây, trng thông để đón gió, chứa nước để mi bèo; xây đài cao để mi trăng, trồng chui để đón mưa, trng liu để gi ve. (Nghệ hoa khả dĩ khiêu điệp; lũy thạch khả dĩ khiêu vân; tài tùng khả dĩ khiêu phong; trữ thuỷ khả dĩ khiêu bình; trúc đài khả dĩ khiêu nguyệt; chủng tiêu khả dĩ khiêu vũ; trí liêu khả dĩ khiêu thiền).
  • Dưới thông nghe tiếng đàn cm, dưới trăng nghe tiếng tiêu, bên khe nghe tiếng thác đỗ, trong núi nghe tiếng tng kinh, tai nghe ra mỗi tiêng đều có ý vị riêng. (Tùng hạ thính cầm, nguyệt hạ thính tiêu, giận biên thính bộc bố, sơn trung thính phạn bối, giác nhĩ trung biệt hữu bất đồng).
  • Đá đặt bên gc mai nên c kính, đá đặt dưới gốc thông nên thô, đá đặt bên gc trúc nên gy, đá đặt trong bồn nên tinh xo. (Mai biên chi thạch nghi cổ, tùng hạ chi thạch nghi chuyết, trúc bạng chi thạch nghi sâu, bồn nội chi thạch nghi xảo).
  • Tính kế mt ngày thì trồng chui; tính kế mt năm thì trông trúc; tính kế mười năm thì trng liễu, tính kế trăm năm thì trng thông. (Nhất nhật chi kế chủng tiêu, nhất tuế chi kế chủng trúc, thập niên chi kế chủng liễu, bá niên chi kế chủng tùng).
  • Ly hoa thông làm Ịương thc, ly trái thông làm hương liu, ly canh thông làm chi quét, ly sóng lao xao trên ngn thông làm tiếng trng. trong núi mà có được hơn trăm cây thông ln, có th dùng mãi không hết. (Dĩ tùng hoa vi lương, dĩ tùng thực vi hương, dĩ tùng chi vi chủ vĩ, dĩ tùng âm vi bộ chướng, dĩ tùng đào vi cổ xúy. Sơn cư đắc kiều tùng bách dư chương, chân nãi thụ dụng bất tận).
  • Mai khiến người cao nhã, lan khiến người lng l, cúc khiến người quê mùa, sen khiến người điềm đạm, xuân hi đường khiến người xinh đẹp, mẫu đơn khiến người hào sng, chui và trúc khéen người phong vn, thu hi đường khiến người kiu my, thông khiến người phóng dt, ngô đồng khiến người thanh cao, liu khiến người sầu cm. (Mai linh nhân cao, lan linh nhân u, cúc linh nhân dã, liên linh nhân đạm, xuân hải đường linh nhân diễm, mẫu đan linh nhân hào, tiêu dữ trúc linh nhân vận, thu hải đường linh nhân mị, tùng linh nhân dật, đông linh nhân thanh, liễu linh nhân cảm).
  • Gió có ba th tiếng: có tiếng lao xao thi ngn thông như sóng dy, có tiếng xào xc trong cây c mùa thu, có tiếng thi sóng v ì m (Phong chi vi thanh hữu tam: hữu tùng đào thanh, hữu thu thảo thanh, hữu ba lãng thanh).

Riêng với Đà Lạt, tiếng thông reo trong gió lại gây ấn tượng cho tôi không sâu đậm bằng hình ảnh những đôi thông lãng đãng trong sương. Khi xe đã lăn bánh qua đèo Prenn, tôi vẫn mang hình ảnh những đồi thông về thành phố. Đà Lạt có thể mất đi những thác ghềnh, mất đi những vườn hoa, song còn những đồi thông là vẫn còn Đà Lạt. Còn sương giăng trên những đồi thông thì trong tôi, Đà Lạt vẫn còn là thành phố cổ tích, dù ánh sáng văn minh và những phong trào du lịch xô bồ đã tàn phá đi rất nhiều sự bình yên và thơ mộng một thời.

Nguồn tổng hợp