Thông tin trong nghiên cứu sức khỏe có thật sự đáng tin không?

1 year ago Nga Truong 0

Do nhận thức về mối liên hệ giữa dinh dưỡng và sức khỏe được nâng cao, người tiêu dùng đang ngày càng có xu hướng tự chăm sóc sức khỏe của bản thân. 

Mỡ có hại nhưng mỡ… tốt thì có lợi. Thế còn cá, rượu và các loại hạt thì thế nào? Lời giải cho vấn đề sức khỏe có đáng tin đã đặt khoa học vào cuộc nghiên cứu liên tu bất tận và bùng nổ làn sóng tranh luận trong giới truyền thông đại chúng, khiến người bệnh có khi chẳng biết đâu mà mò…

Cứ thấy… báo nói là tin!

Người ta khó có thể bỏ qua tiêu đề trên các báo gần đây, chẳng hạn New York Times: Nghiên cứu cho thấy ăn kiêng ít béo không giảm những rủi ro sức khoẻ; Atlanta Journal-Constitution: Giảm béo phì có thể không giúp hạn chế bệnh tật; Boston Globe: Nghiên cứu cho thấy một chế độ ăn kiêng ít béo chẳng mang lại lợi ích đáng kể nào; Los Angeles Times: Ăn thịt nạc không giảm rủi ro… Khi kết quả nghiên cứu được tài tợ chính phủ liên bang Mỹ được công bố tháng 2.2006, truyền hình và báo chí toàn nước Mỹ đã ầm ĩ về những điều làm đảo lộn sự hiểu biết thông thường và lời khuyên y học chuẩn mực.

Theo các báo trên, mỡ không đáng để quá lo ngại. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu từ Tổ chức sức khoẻ phụ nữ (WHI) thực ra phức tạp hơn nhiều. Không có dấu hiệu tốt nào (như nhiều người trong chúng ta hy vọng) để đổ xô đi ăn bánh kẹp thịt, đặc biệt nếu bạn là người đàn ông ở bất kỳ tuổi nào hay là phụ nữ dưới 50. Sau khoảng tám năm khảo sát, các nhà nghiên cứu chưa phát hiện khác biệt đáng kể nào về̀ nguy cơ ung thư vú giữa phụ nữ ăn kiêng ít béo và phụ nữ ăn uống bình thường. Theo Newsweek, nghiên cứu WHI với kết quả mới nhất dường như tạo sự đổi ý hẳn về quan niệm ăn kiêng.

Thông tin sức khỏe trên báo liệu có đáng tin?

Trước thì tất cả loại mỡ là có hại, nay thì một số mỡ là có lợi. Trứng từng được xem là không tốt, nay thì dùng được với lượng điều độ. Dầu chiết xuất từ hạt cũng có lợi. Cà phê cũng trải qua nhiều thăng trầm trong đánh giá lợi ích của nó. Sôcôla có thể cũng là thực phẩm có lợi cho sức khoẻ. Dễ dàng nhận thấy, người Mỹ ngày càng mập hơn. 2/3 dân số Mỹ dư cân hoặc béo phì và chịu tốn hàng triệu đôla mỗi năm với hy vọng phù du sẽ giảm bớt vài cân thừa. Tại sao lại có nhiều thông điệp lẫn lộn như vậy? Câu trả lời chính: Có quá nhiều thông tin. Cách đây không lâu, bệnh nhân tiếp nhận kiến thức y khoa từ bác sĩ.

Ngày nay, sự bùng nổ truyền thông đã chuyển hoá mối tương quan mật thiết ấy thành niêm ham mê các trang web chuyên biệt về sức khoẻ, báo cáo y khoa trên truyền hình, tin tức báo chí với khả năng dự báo trước về sự đột phá. Người Mỹ thích nghe điểm tin về cách điều trị ung thư mới nhất từ bác sĩ Sanjay Gupta (CNN) hoặc bác sĩ Tim Johnson (ABC) hơn là từ bác sĩ chuyên khoa ung thư! Từ 1997-2004, số tin khoa học đăng trên các báo tăng gấp ba – từ 1% lên 3%, trong khi tin thế giới giảm từ 27% còn 14%. Trên các tạp chí, số trang dành cho y học và sức khoẻ tăng gấp bốn kể từ năm 1980.

Năm 2005, 10 trong số 50 tin bài tuần báo Newsweek đều có nội dung liên quan sức khoẻ như ung thư phổi, bệnh tự kỷ và tim mạch. Theo TNS Media Intelligence, nơi chuyên theo dõi thông tin truyền thông, năm 2005, ngành dược với sự sinh sôi nảy nở đã chi 1,3 tỉ USD cho quảng cáo tạp chí và chi thêm 2,4 tỉ USD cho quảng cáo mạng và truyền hình cáp. Bản thân một số nhà khoa học đã trở thành một phần của bộ máy truyền thông. Bệnh viện và đại học liên tiếp gởi ấn bản và xuất bản tạp chí mới về những tiến bộ khoa học để phổ biến cho dân.

Công ty được thuê bác sĩ như là tư vấn viên, sau đó nâng họ lên làm chuyên gia, và trao họ trách nhiệm trao đổi với báo chí về sự phát triển của một căn bệnh nào đó. Việc đưa tin sẽ tốt, có lẽ là còn rất có ích, nếu tiến trình y học đúng chính xác như thường được báo cáo. Rủi thay, nó lại không như vậy. Các tiêu đề trên mặt báo thường không bao quát hết tính phức tạp của tiến trình nghiên cứu. Khoa học tiến hành từng bước nhỏ và sai lầm hay thất bại là thiết yếu của qui trình. Do đó, các giả thuyết thường bị đụng nhau.

Theo giáo sư Jerome Groopman thuộc Trường đại học y khoa Harvard (cây bút quen thuộc của The New Yorker). “Chúng ta có kỹ thuật, thông tin và nguồn lực, chúng ta hứa với dân. Trong nhiều trường hợp, chúng ta vẫn không có câu trả lời”. Hơn nữa, nghiên cứu được công bố về cùng chủ đề có thể khác biệt đáng kể về mặt quy mô (nhỏ, vừa, lớn), về dân số học (tuổi, giới tính), về dữ liệu (tự báo cáo hay được đo lường khách quan) và về độ dài thời gian (hàng tuần, hàng tháng, hàng năm).

Các thông tin tràn lan khắp mọi nơi bát chấp đúng sai

Tính phức tạp của thông tin y học – sức khoẻ

Ngoài ra, còn loạt thử nghiệm ngẫu nhiên, thử nghiệm loại trừ, thử nghiệm kiểm soát… Vài nghiên cứu được thực hiện theo cách lần theo tiền sử: họ nhìn vào bệnh án để phát hiện dấu hiệu bệnh tật hay cơ cấu bệnh. Cũng có những nghiên cứu kiểu phân tích tổng hợp. Giáo sư Elias Zerhouni – giám đốc Viện sức khoẻ quốc gia (NHI) – cho biết: “Phương tiện truyền thông báo cáo tất cả nghiên cứu như thể chúng có cùng độ chắc chắn. Thực sự không có nhãn hiệu nào có chất lượng”. Tại Mỹ, Chính phủ chi nhiều kinh phí cho khoa học cơ bản nhưng tự bản thân các ngành phải vận động để xin tài trợ từ nhiều nguồn khác

Do đó, một số công bố nghiên cứu thực chất lại là trò quảng cáo trá hình. Nghiên cứu “trong ngành” có thể kết luận chắc chắn rằng soda là thứ lý tưởng cho ăn kiêng nhưng nghiên cứu ngoài ngành thường cho thấy nước giải khát có đường chính là thủ phạm góp phần gây béo phì. Ủy ban thực phẩm bơ sữa quốc gia từng đầu tư cho nghiên cứu mối liên hệ giữa thực phẩm bơ sữa và sự giảm cân; và Tổ chức tiếp thị nho khỏ California từng lập dự án nghiên cứu cho thấy nho khô giúp chống lại vi khuẩn răng miệng!

Tất nhiên, nghiên cứu trong ngành với kết quả tiêu cực thường không được công bố. Chưa hết, bản thân đối tượng trong khảo sát cũng có thể không đáng tin. Bản tự khai thường ít khi chính xác. Một người tham gia nào đó khai rằng mình nạp 1.700 calo/ngày; về sau, anh ta lại ghi chỉ nạp 1.400 đến 1.500 calo. Những năm trước, tạp chí y khoa phải sàng lọc nghiên cứu nào mới và bác sĩ phải đọc qua nhiều cũng như thảo luận với đồng nghiệp rồi hình dung việc chuyển dịch dữ liệu thế nào theo thường thức y học. Tất cả việc này, bệnh nhân không được biết. Ngày nay, thậm chí vài tạp chí uy tín nhất cũng phải thích ứng với nhu cầu gia tăng về thông tin sức khoẻ.

Khi chuyên san The Journal of the American Medical Association (JAMA) và The New England Journal of Medicine ra đời vào thế kỷ thứ 19, không có khái niệm bộ phận  quảng cáo trong tờ báo. Ngày nay, JAMA (từng xuất bản một số nghiên cứu WHI) dành 1 triệu USD/năm cho chương trình truyền thông trong đó phân nửa dành cho phỏng vấn video thu sẵn để lúc nào cũng có thể cung cấp tức thì cho nhà báo! Và nửa còn lại họ dùng cho việc điều hành văn phòng thông tin liên lạc, tổ chức họp báo và chuẩn bị công bố tin tức về các nghiên cứu sắp tới.

Bản tự khai của các đối tượng khảo sát chưa chắc đã đúng

Nghiên cứu ăn kiêng đôi lúc thật là chuyện nực cười. Xem lại các nghiên cứu 15 năm trước, bây giờ chúng ta biết nhiều hơn và hiểu rằng một số thực phẩm có chất béo như dầu ôliu và bơ có thể thực sự có ích trong khi một số thực phẩm được dán nhãn “không béo” lại đầy chất làm tăng trọng! Mỗi ngày, thực tế về việc ăn kiêng dường như khó nắm bắt hơn bao giờ trong khi các nhà khoa học khăng khăng rằng bức tranh nghiên cứu đang trở nên rõ hơn. Hãy nói một chút về bơ thực vật. Trước đây, bơ thực vật được chào mời là tốt hơn bơ động vật (chứa chất béo no).

Nhưng đó là trước khi các nhà khoa học nhận ra rằng bơ thực vật cũng có thành phần thậm chí độc hại hơn, gọi là chất “chuyển dịch chất béo” (transfat). Sôcôla cũng là thực phẩm được bàn cãi nhốn nháo gần đây. Sôcôla thường được xem là thực phẩm tốt và công chúng dùng rất nồng nhiệt. Sự việc nảy sinh từ nghiên cứu năm 2001 với phát hiên rằng bột cacao và sôcôla nguyên chất làm tăng cholesterol tốt lên 4%. Điều hầu hết mọi người không nhận ra là chỉ có 23 đối tượng tham gia cuộc nghiên cứu trên – một con số cực kỳ thấp để có thể được xem là tiêu biểu đại diện cho số đông.

Mới đây, sôcôla lại trở thành nạn nhân của nghiên cứu khoa học khi vào tháng 3.2006, bài báo từ Archives of Internal Medicine về một nghiên cứu tại Hà Lan cho biết các đối tượng ăn nhiều thực phẩm chứa sôcôla (bánh kẹo…) đều có huyết áp thấp và có thể có khả năng chầu ông bà sớm vào năm thứ 15 liên tiếp dùng loại thực phẩm trên, vấn đề ở chỗ chẳng ai chỉ ăn một thứ trong suốt cuộc đời. Trong trường hợp trên, nguy cơ tử vong vì sôcôla chỉ có thể xảy ra nếu trong vòng 15 năm, bạn chẳng ăn gì ngoài thứ thức ăn màu nâu đó! 

Nguồn tổng hợp