Một số bệnh thông thường hay gặp ở cá cảnh và cách phòng trị

1 year ago Nga Truong 0

Ai đam mê chơi cá cảnh rất mong muốn cho đàn cá của mình luôn mạnh khỏe nhưng cá cảnh cũng thường hay mắc bệnh thông thường.

Bệnh ở cá từng là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, đã và đang là mối lo cho ngành cá cảnh nói chung. Từ những hồ cá nhỏ nhà bạn đến những bể lớn, nơi sản xuất quy mô, đều có nguy cơ nhiễm bệnh. Nếu không có kế hoạch dự phòng và phương pháp điều trị đúng sẽ dẫn đến hậu quả khó lường. Dưới đây là một số bệnh thường gặp ở cá cảnh và biện pháp phòng – điều trị hiệu quả.

Bệnh trắng đuôi

Dấu hiệu bệnh lý: Khi cá bị bệnh, dấu hiệu bệnh lý thể hiện ở 2 dạng:

– Dạng cấp tính: Đuôi bắt đầu xuất hiện những vùng trắng. Các vùng này phát triển rất nhanh đến vây cuối của vây lưng làm cho cả vùng đuôi có màu trắng. Khi bệnh nặng, đuôi bị ăn mòn xơ xác. Cá ở trạng thái treo đầu hoặc “trồng chuối”. Cá bỏ ăn và chết rất nhanh, chết hàng loạt. Giải phẫu bên trong thấy thành ruột bị phá hủy và có hiện tượng chảy máu.

– Dạng mãn tính: Vùng đuôi có một số điểm trắng nhưng ít có hiện tượng cá chết.

Một số bệnh thông thường hay gặp ở cá cảnh và cách phòng trị - Ảnh 1

Tác nhân gây bệnh là Trực khuẩn Pseudomonas dermoalba.

Tác hại: Bệnh này gây hại ở hầu hết các loài cá nước ngọt nhất là ở giai đoạn cá con làm ảnh hưởng đến chất lượng giống và gây chết hàng loạt.

Phương pháp phòng và trị bệnh

– Phòng: trước khi thả nuôi nên tắm kháng sinh Streptomycine 25mg/l trong 30 phút, hoặc nước muối 2 – 3%, KmnO4 15 – 20ppm.

– Trị bệnh: Dùng kháng sinh có độ nhạy cao với P. dermoalba như Chloramphenycol. Oxytetracylin, Sulfadiazin. Có thể tắm cho cá hay trộn chung vào thức ăn.

Bệnh xuất huyết

Dấu hiệu bệnh lý: Khi mắc bệnh này cá thể hiện một số trạng thái không bình thường như nổi đầu, bơi lờ đờ trên mặt nước, vùng vẫy bất thường. Một số có hiện tượng treo râu kèm theo bỏ ăn. Trên cơ thể xuất hiện nhiều dấu hiệu bất thường khác, đặc biệt là xuất huyết ở da như gốc vây, mắt miệng, nắp mang. Cá có hiện tượng trương bụng lên, hậu môn sưng đỏ tím, chỉ cần ấn nhẹ vào đó thì chảy ra chất dịch màu vàng hoặc hồng. Khi giải phẫu thấy toàn bộ nội quan đều xuất huyết, một số mật bị sưng lên và chuyển sang xanh dương, gan thận bị tím bầm. Cá chết hàng loạt và chết rất nhanh.

Tác nhân gây bệnh: là liên cầu khuẩn Gram (+) Streptococcus.

Biện pháp phòng trị: Ngoài biện pháp phòng chung đã nêu, cần chú ý:

– Tránh những thương tổn xây xát cho đàn giống.

– Vào mùa dịch bệnh cần san thưa mật độ.

– Dùng các kháng sinh đặc thù cho vi khuẩn Gram (+) hoặc kháng sinh có phổ rộng như Ampiciline, Peniciline, Erythromycin.

Trị bệnh: Đối với cá giống dùng phương pháp tắm: Cá được tắm bằng nước thuốc kháng sinh trong 30 phút – 1 giờ, mỗi ngày thay nước một lần, điều trị liên tục từ 3 – 5 ngày. Nồng độ thuốc thường dùng:

– Chloramphenicol: 10 – 20mg/l

– Oxytetracyline: 10-50

– Streptomycine: 20 – 50

Bệnh trùng bánh xe

Dấu hiệu bệnh lý: Khi bị nhiễm bệnh, cá thường có các dấu hiệu sau:

– Màu sắc nhợt nhạt, đuôi, vây có thể bị xơ, cá chậm lớn và yếu.

– Cá cảm thấy ngứa ngáy nên thường nổi lên mặt nước.

– Khi bệnh nặng, trùng ký sinh ở mang phá hủy các tơ mang khiến cá bị ngạt thở.

– Những con bệnh nặng, mang đầy nhớt và bạc trắng. Cá bơi lung tung, không định hướng, lật bụng chìm xuống đáy và chết.

Một số bệnh thông thường hay gặp ở cá cảnh và cách phòng trị - Ảnh 2

Tác nhân gây bệnh: Trùng bánh xe thuộc giống Tricodina có thể sống tự do trong nước 1-1,5 ngày, chủ yếu ký sinh ở da, mang cá.

Phòng trị bệnh: Tốt nhất là giữ vệ sinh bể nuôi cá. Theo G.L Hoffman và F.P. Meyer 1974 thì trên thế giới người ta đã dùng tới 21 loại hóa chất khác nhau để trị bệnh này. Nhưng đặc trị nhất là dùng CuSO4 để tắm (2 – 5ppm), ngâm hoặc cho trực tiếp vào bể với nồng độ 0,5 – 0,7 ppm. Hoặc kết hợp giữa CuSO4 và FeSO4 theo tỷ lệ 5:2 với nồng độ của CuSO4. Dùng nước muối 2 – 3% để tắm cho cá tùy theo nhiệt độ và sức khỏe của cá.

Bệnh trùng quả dưa

Bệnh này còn có tên gọi là bệnh đốm trắng.

Dấu hiệu bệnh lý:

– Trên thân xuất hiện những đốm trắng.

– Da, vây, mang có nhiều nhớt, màu sắc nhợt nhạt.

– Cá bệnh thường tách đàn, bơi lờ đờ gần thành hồ hoặc bể và trên tầng mặt.

– Bệnh gây ảnh hưởng đến chức năng sinh lý, sinh hóa của cá: Prôtein trong huyết thanh giảm 2,5 lần, hoạt động của gan, thận bị rối loạn, thành phần của máu cũng thay đổi.

Tác nhân gây bệnh: Là tiêm mao trùng thuộc giống lchthvophthyrius – động vật đơn bào có kích thước lớn đường kính 0,5mm, có hình cầu giống như quả dưa.

Chẩn đoán bệnh: Dựa vào dấu hiệu bệnh lý quan sát bằng mắt thường và kiểm tra nhớt cá trên kính hiển vi.

Phòng và trị bệnh:

– Phòng bệnh: Tuyệt đối không thả chung cá bệnh với cá khỏe. Thay nước thường xuyên liên tục sẽ kìm hãm được dịch bệnh.

– Trị bệnh: Các hóa chất đặc trị bệnh này là:

+ NaCl 2 – 3% tắm cho cá. Để tăng hiệu quả trị bệnh, thường dùng nước muối kết hợp với MgSO4 tỉ lệ 3,5/1,5 ở 0,5% đế tắm cá.

+ Malachite Green: cho vào bể với hàm lượng 0,15 – 0,2 ppm hoặc 0,3 ppm ngâm đàn cá. Sau 1 tuần, lặp lại lần nữa.

+ HgNO3: ngâm cá trong 3 ngày với hàm lượng 0,1 – 0,3 ppm tùy thuộc vào nhiệt độ nước. Có thể phun trực tiếp vào bể nuôi với 0,15 – 0,2 ppm.

 

Nguồn tổng hợp